Lịch Sử Từ Chữ Tượng Hình Đến Sticker


Có một sự thật là chẳng có lí do gì để bảng chữ cái phải theo thứ tự abcd. Và thứ ngôn ngữ viết cổ xưa nhất cũng thế, nó thậm chí còn chẳng có bảng chữ cái, nó không giống như nhiều các hệ thống chữ viết "ghi âm" hiện đại; thay vào đó, mỗi kí tự biểu diễn một từ (hoặc một phần của từ). Nghe có vẻ khá quen với bạn vì kiểu nói bằng một bức tranh là một khái niệm quen thuộc - Hán tự là một dạng hệ thống chữ hình họa, cũng như bộ Kanji trong tiếng Nhật. Thanh thiếu niên hiện nay đang sử dụng một bộ chữ hình họa hiện đại hơn - các sticker.

Người ta đã tốn rất nhiều giấy mực để phê phán việc sticker và emoji giết chết cách mà người ta qua các con chữ nhưng điều đó cũng vẽ ra một điều sai lầm khác: đó là ngôn ngữ tiến hóa từ những con chữ hình họa (chữ tượng hình) thành ngôn ngữ có các chữ cái (english). Sự thật là, tiếng Anh không phát triển từ một hệ thống chữ hình họa. Và tiếng Quan thoại, thứ tiếng có hơn 1.000.000.000 người dùng hiện nay, là thứ ngôn ngữ được nói nhiều nhất trên thế giới, là một hệ thống ngôn ngữ hình họa dựa trên nền tảng âm tiết.

Ngày nay các nhà ngôn ngữ học có thể phản đối việc xếp emoji thành một hệ thống chữ viết hình họa, Đó là bởi vì emoji thực ra mang tính chất hình-ý (dùng hình để lấy ý), có nghĩa là mỗi emoji biểu trưng cho một ý niệm thay vì một từ cụ thể. Nhưng khi stickers trở nên phổ biến và bắt đầu thay thế các emoji đơn giản, chúng ta lại tiến gần hơn đến một thứ ngôn ngữ hình họa thật sự, khi mà mỗi kí tự thay vì biểu tượng cho một ý niệm, lại trở thành một từ trong câu. 

Những người dùng các ứng dụng chat như Line hay Wechat sẽ có thể đặc biệt quen với điều này - khi mà một người viết một câu, họ có thể chọn thay thế bất kì từ nào với một sticker có tương quan nghĩa trực tiếp với từ đó. Nếu câu đó xuất hiện ở thông báo (push notification), một người dùng có thể thấy các từ, anh có muốn đi (ăn) với (em)?, trong khi các chương trình sẽ thay thế bằng các hình ảnh tương đương.

Cần phải chú ý rằng không có hệ thống chữ viết tượng hình nào sử dụng hoàn toàn các biểu tượng (một chữ = một hình). Tiếng Quan Thoại sử dụng các thành phần âm tiết để mô tả các từ mới gặp, trong khi chữ tượng hình Ai Cập cổ đại cho phép sử dụng các phụ âm với lí do tương tự, Và thứ ngôn ngữ cổ xưa nhất thế giới? Đó là một hệ thống chữ viết dựa theo các âm tiết.

Nhiều người sẽ nói rằng chữ viết nguyên bản của chúng ta là chữ tượng hình Ai Cập cổ đại, nhưng thứ ngôn ngữ nổi tiếng đó không phải là thứ đầu tiên xuất hiện. Vinh dự đó dành cho chữ hình nêm. Được phát minh từ cách 3400 năm TCN, chữ hình nêm không phải một ngôn ngữ nói, mà là một hệ thống chữ viết. Chữ hình nêm sử dụng chung các kí tự với nhiều ngôn ngữ khác, trong đó đáng chú ý nhất là tiếng Sumeria và tiếng Akkadia. Giống như cách mà tiếng Quan Thoại và tiếng Quảng Đông sử dụng cùng một hệ thống chữ viết, chúng ta hoàn toàn có thể viết tiếng Anh bằng chữ hình nêm.

Look, Ma, I’m writing like the Babylonians did!

Hệ thống chữ hình nêm bắt đầu với hơn 1000 kí tự, nhưng qua thời gian họ đã cắt bớt để có thể dễ sử dụng hơn (trái ngược với tiếng Anh hiện tại). Khó có thể nói được rằng chữ viết bắt nguồn từ thời gian nào, khi mà xã hội nguyên thủy sử dụng các tiền-kí-tự (mấy hình khắc trên vách đá trong hang), nhưng các nhà sử học hiện nay đều nhất trí rằng các nền văn hóa chuyển sang dùng chữ viết khi họ chuyển từ săn bắt-hái lượm sang làm nông nghiệp. Cho dù là người Sumeria hay người Maya, quản lí tài sản yêu cầu một hệ thống tinh vi hơn để ghi lại. Với trường hợp của chữ hình nêm, đó là một chuỗi các kí tự biểu trưng cho hàng hóa (một con cìu, hai con cìu, rất nhiều cìu). Và nó tiến hóa sang các khái niệm về tư sản (hai con cìu của tôi, hai con cìu của anh), và từ đó họ lại thêm vào các yếu tố ngữ âm để dễ giải mã hơn (hai con cìu của Mack, hai con cìu của Wren). 

Tiếng Trung hiện đại sử dụng cả chữ tượng hình và các kí tự ghi âm để có thể tạo ra từ cho các khái niệm lần đầu xuất hiện. Nhiều người học ngoại ngữ tin rằng hầu hết các Hán tự là ghi hình, bởi vì nó dễ dạy và dễ nhớ, nhưng nó chỉ chiếm khoảng 5%. Khoảng 12% là các văn tự hình-tượng-ý, một kiểu tượng hình, và 80% còn lại là các kí tự ngữ âm ( có sự kết hợp của cả tượng hình và tượng âm). Chữ hình nêm cũng thế.

Cho dù Hán tự có sự tiến hóa tương đối giống với chữ hình nêm, hai hệ thống chữ viết này hoàn toàn không liên quan đến nhau, Trong khi các nhà sử học vẫn tranh cãi rằng chữ tượng hình Ai Cập phát triển từ chữ hình nêm hay là tách biệt, họ đều biết rằng tiếng Hán có gốc riêng của nó, chứ không phải một nhánh tách từ chữ hình nêm, Người Maya cổ đại có một ví dụ tiêu biểu về một hệ thống chữ viết tách biệt phát triển song song - họ cũng sáng tạo ra chữ tượng hình.

Khi mọi người vẫn tranh luận về việc tiếng Anh thoái hóa thành sticker, điều duy nhất thể hiện sự ngu dốt của họ là tiếng Anh không bắt nguồn từ thứ ngôn ngữ tượng hình. Tiếng Anh sử dụng bảng chữ cái Latin, mà bắt nguồn của nó là từ nhóm ngôn ngữ Semit. Các ngôn ngữ hệ Semit có xuất phát từ vùng Mesopotamia, người Ả Rập vùng Peninsula và vùng Levant từ khoảng năm 3750 TCN. Hệ thống chữ viết của họ dựa trên chữ viết thầy tu Ai Cập, - KHÔNG phải chữ tượng hình. Chữ viết thầy tu tồn tại song song với chữ tượng hình chứ không phải một nhánh phát triển từ chữ tượng hình. Chúng tồn tại cùng một thời điểm. Đây là trường hợp mà cả chữ tượng hình và chữ ghi âm không chỉ cùng tồn tại, nó thậm chí còn tồn tại trong cùng một ngôn ngữ. Không chỉ có thể, chữ viết thầy tu còn được dùng nhiều hơn chữ tượng hình trong đời sống hàng ngày.

Không giống như hệ thống chữ hình họa Trung Quốc cổ đại, mà biểu trưng còn đơn giản, chữ tượng hình Ai Cập cực kì đẹp và chi tiết. Điều đó có nghĩa là chữ tượng thanh viết nhanh hơn, và chữ tượng hình phức tạp nhưng chứa nhiều thông tin hơn, và nó được sử dụng trong các văn bản hành chính cũng như kể chuyện.

Giới học giả phương Tây thì vẫn thích hệ thống chữ viết dựa trên việc họ muốn nó nghiêm túc hay dân dã, nhưng công nghệ hiện đại đã bắt đầu phân chia nó ra. Ngày nay chúng ta có thể ngay lập tức dùng emoji và sticker thay vì phải viết những đường nét phức tạp, hay gõ nguyên một từ, để tiết kiệm sức lao động. Viết một email công việc? Bạn phải gõ cả câu đúng chính tả và ngữ pháp, rồi kiểm tra lại  hai lần cho chắc ăn. Còn viết cho bạn thân hay chị gái thì sao? 👂 💃 2 🌑 ?

Emoji phổ biến hơn vì nó nhanh và biểu cảm hơn emotion, và lịch sử đã chứng minh rằng người Trung Quốc (và cả Nhật Bản) đã châm ngòi cho phong trào sử dụng sticker. Cho đến tận bây giờ trong giới công nghệ, các sản phẩm của phương Tây vẫn không hiệu chỉnh cho các Hán tự.


Sarah Dương đã viết trên tờ The Atlantic: Điện báo đã được phát triển với cốt lõi là bảng chữ cái. Máy đánh chữ cũng thế. Và cả máy tính. Và cả các giao thức Internet. Và người Trung Quốc đã dành cả một thập kỉ để làm ngôn ngữ của họ có thể theo kịp được những công nghệ trên cho đến khi máy tính có đủ sức mạnh để vượt qua nó, cho ra kết quả là một mối quan hệ với công nghệ phong phú và phức tạp hơn trong thế giới chữ cái.

Sức mạnh máy tính hiện đại cho phép lập trình tiên đoán. Điều này khiến việc nhập dữ liệu đầu vào nhanh hơn tiếng Anh và cuối cùng dẫn đến một phát minh nổi tiếng - Autocorrect.

Nhưng trước khi điều đó xảy ra, người sử dụng điện thoại muốn giao tiếp nhanh chóng, nhưng bàn phím điện thoại có khả năng nhập Hán tự một cách chậm kinh khủng. Thay vào đó, sticker có thể biểu đạt cảm xúc nhanh hơn và dễ truyền đạt hơn. Nhưng giống như các ngôn ngữ, sticker cũng có một khởi nguồn, mà mở đầu là phong trào sử dụng emoticon thay cho các câu phức tạp. Emoticon được phát minh bởi một nhà nghiên cứu tại đại học Carnegie Mellon University. Scott Fahlman gặp rắc rối khi sinh viên hiểu nhầm các thông báo trên bảng tin và ông muốn có một cách nhanh hơn để các sinh viên có thể hiểu được nếu tin nhắn đó có tính nghiêm túc hay hài hước. Một hình :) sau một tin nhắn chỉ cần dùng 2 phím, và ý tưởng này nhanh chóng lan ra. Chẳng lâu sau emoticon có thể mô tả động vật <(^) hay cảm xúc <3 và thậm chí cả hành động ╰( ͡° ͜ʖ ͡° )つ──☆*:・゚.

Các emoticon phổ biến được chuyển đổi thành emoji. Và cha đẻ của nó là Shigetaka Kurita. Ông là người nắm bắt xu thế và mang emoji đến điện thoại di động ở Nhật Bản vào cuối những năm 90. Chúng phổ biến đến nỗi mà Apple khi giới thiệu iPhone vào năm 2007, họ muốn dọn đường đến thị trường Nhật Bản và tung ra một tính năng ẩn để người dùng có thể bật được bàn phím emoji. Nó chỉ được quảng cáo ở Nhật Bản nhưng sau đó những người dùng ở Mỹ nhanh chóng tìm ra, cùng với sự ngạc nhiên của Apple, ai cũng thích dùng cách đơn giản này để giao tiếp. Emoji lan ra toàn thế giới.

Từ emoji, cuối cùng chúng ta phát triển các sticker, một dạng giao tiếp hình họa nâng cấp. Sticker được phát triển vào sau trận động đất và sóng thần Tohoku năm 2011, khi công ty Internet hàng đầu của Hàn Quốc là Naver bắt đầu phát triển Line (mà sau đó trở thành app nhắn tin phổ biến nhất ở Nhật Bản). Họ cho phép người dùng kể một câu chuyện phức tạp và đó là cách mà nhiều người vẫn giao tiếp hiện nay. Có 2.5 tỉ người dùng ít nhất một app nhắn tin, vào năm 2018 người ta dự đoán có hơn 90% những người có thể truy cập Internet sẽ sử dụng các app này.

Thế giới ngày càng trở nên phức tạp qua từng năm, và ngôn ngữ đã gặp khó khăn với việc theo đuổi sự phát triển đó. Tiếng Anh hiện đại có khoảng 1 triệu từ, so với thời của Shakespeare chỉ là 200.000 từ. Hầu hết người nói tiếng Anh chỉ sử dụng một phần - một người bản địa nói tiếng Anh có vốn từ vựng khoảng 30.000 từ. Bạn có thể sẽ khó chịu khi gặp người khác nói "clgt" và phải google xem nó có nghĩa là gì, nhưng có người còn dùng "đậu má" hay "ship trà sữa".  Chúng ta cần một thứ ngôn ngữ đơn giản hơn và vượt qua khả năng biểu đạt của ngôn ngữ hiện tại, và có thể được biểu đạt chỉ bằng một lần bấm nút.

Chào mừng đến với kỉ nguyên của Sticker

Với sticker chúng ta có thể chỉ cần một lần chạm mà truyền đạt được một đến hai câu. Cũng giống như cách mà người Ai Cập sử dụng chữ tượng hình và chữ cái với mục đích khác nhau, chúng ta sử dụng để nói từ chính trị cho đến sex.

Sticker có thực sự là một kiểu ngôn ngữ? Các nhà ngôn ngữ học vẫn đang chần chừ về việc công nhận điều này. Một trong các luận điểm đưa ra là nó thiếu ngữ pháp và chính tả khiến nó trên lí thuyết không mang tính ngôn ngữ. Chúng ta chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ theo từng ngữ cảnh (ví dụ như "motherlover" ai cũng biết chúng ta có thể thay "love" bằng F-word). Nhưng không có nhất trí về mặt ngữ pháp khi nào thì dùng "love" hay không. Tuy nhiên thì có một số nghiên cứu cho thấy người dùng đã bắt đầu có ý niệm về chữ tượng hình. Ví dụ như một cái cốc bốc khói sẽ được hiểu là cốc cà phê hoặc đồ uống nóng, và đó có thể là khởi đầu để sticker có thể phát triển thành hệ thống chữ viết.

Một Redditor (người dùng mxh Reddit) đã thử làm điều đó. Một sinh viên ngôn ngữ học ở đại học South Florida đã viết lại truyện cổ tích "Nàng công chúa ngủ trong rừng" hoàn toàn  chỉ dùng emoji (trừ tên riêng của nhân vật). Các bạn có thể bấm vào đây để thử xem mình có thể đọc được bao nhiêu. Thậm chí có các cuốn Moby Dick (sách gối đầu giường của các sinh viên văn khoa Mỹ) chuyển thể thành emoji (các bạn có thể mua với giá 40$ ở đây).

Vậy nếu nó có quy tắc ngữ pháp hay chính tả riêng thì sao? Kết quả có thể giống cuốn Book From the Ground của Xu Bing, cuốn sách toàn những kí hiệu và kí tự mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được.

Sticker không phải một dạng thoái hóa từ ngôn ngữ. Nó cũng chẳng phải là tiến hóa. Nó là một dạng ghi nhớ văn hóa về cách mà mọi thứ hoạt động để có thể biểu đạt trong thời đại công nghệ. Với người phương Đông, nó là sự vận động tự nhiên, với người phương Tây, đó là sự dồn nén qua nhiều thập kỉ cần được thỏa mãn.

Liệu sticker có thể trở thành ngôn ngữ thống nhất toàn thế giới?

Tiêu đề do người dịch đặt

 Theo Medium 

36
7659 lượt xem
36
15
15 bình luận